Con thợ may không được mặc áo tết

Con thợ may không được mặc áo tết

1/ Chờ áo chiều 30
Đêm 30, tôi rất ngán những tiếng gõ gấp gáp vào cửa sổ. Đấy hẳn là một vị khách tới đòi áo quần. Chị tôi căng thẳng đạp máy khâu xành xạch phía trong. Từ sáng 30, chị đã nhắc tôi đóng cửa sổ. Chỉ hé xem khách là ai và trả lời khách theo “hiệu lệnh” của chị.
“Có chưa?” một người khách hỏi. Phía trong chị tôi giơ 2 ngón tay lên, tôi trả lời: "Ráng 2 tiếng nữa cô nhé" .
2 tiếng sau, vẫn tiếng người đàn bà gắt gỏng: "Có chưa? Nhà bao việc mà chầu chực thế này…". Tôi đã cuống, nhìn vào trong chờ cánh tay chị gái: "Cô ơi, xong rồi, còn 30 phút nữa thôi”.
Đấy là công việc của tôi chiều 30 nhiều năm học cấp II và cấp III. Tôi là người vô cùng quan trọng được chị chọn để không bị vây bủa bởi những lời mắng nhiếc, chửi bới vì chậm hẹn giao đồ của khách.
"Cô chờ chị cháu, đang làm phần lai rồi”. "Bác ơi xong rồi, xong rồi, chị con ủi xong là con đơm nút ngay", “Ông ơi cái quần của ông chắc 10h đêm mới xong. Con hứa mang qua nhà ông trước Giao thừa.”
Không thể kể xiết bao nhiêu cơn thịnh nộ đã trút xuống đầu chị em tôi ngày cuối năm. Mùa tết là mùa may đồ chẳng lo ế, nhưng thợ may nào cũng phải vùi mặt, còng lưng làm suốt ngày đêm cho kịp. Thường thì trước tết chừng 2-3 tuần, chị tôi đã đóng sổ, không nhận hàng. Nhưng có những gia đình bận rộn, sát tết mới nhớ ra việc đưa con đi may đo. Thợ nào nỡ từ chối khách, nhất là khách quen, thế là chị tôi lại cả nể xếp lịch. Kết cục là lại nợ nần, lại sai hẹn…
Nhớ về ký ức tết, tôi lại nhìn rõ hoạt cảnh chiều 30 tết, năm nào cũng vậy. Những tốp khách tới lui gõ cánh cửa gỗ đòi nợ, hối nợ, chị em tôi bên trong tìm đủ cách lui giãn nợ, lùi nợ.
Tiếng khẩn khoản, van nài từ hai phía - chủ nợ và con nợ.
Chị tôi sợ mùa làm hàng tết lắm, vừa phải may gấp, lại không được may ẩu, đồ tết mà! Rồi phải tính toán vải vóc, thời gian, đối phó, đau hết cả đầu.
2/ Nhà tôi ba đời thợ may
Chị gái tôi là hậu duệ đời thứ 3 của nghề may. Thời ông nội tôi, cả làng cũng chỉ có một máy may. Nếu không may đồ của ông tôi, người dân 3 làng liền kề sẽ phải đi bộ lên tận huyện, mà thời ấy mấy ai có xe đạp mà đi. Ông nội tôi là con nhà giàu, được học trường tây, trưởng thành được ông bà cố tặng xe đạp để lên huyện vừa học chữ vừa học nghề.
Ban đầu nghề may dự tính chỉ nghề phụ, sau kháng chiến, lại thành nghề chính của ông tôi, bên cạnh nghề nông. Ông tôi là người tài hoa, lại thêm tính cẩn thận, nên may đồ rất đẹp và bền. Trẻ con nông thôn cần nhất tấm quần tấm áo lê la cả ngày không tuột chỉ, không rách đũng, nên sau này áo quần công nghiệp ra đời. Rất nhiều người vẫn chỉ quen với sự thoải mái của đồ may thủ công.
Cha làm may, con cái tự hào lắm, nhưng cha tôi có khi kể đầy ấm ức: "Con nhà hàng xóm có áo mới mặc tết, chứ con nhà thợ may thì chỉ mặc áo cũ mà thôi. Đó là chân lý rồi". Cái chân lý “con thợ may không bao giờ có áo mặc tết” ấy, không ngờ tôi được trải nghiệm.
Cha tôi thoát ly đi làm công nhân ngành giao thông, tưởng nghề may đã đứt đoạn. Nhưng những năm bao cấp quá khốn khó, nhà thiếu ăn liên miên, cha lên biên giới mua về chiếc máy khâu con bướm, rồi mua sách dạy may của cô Triệu Thị Chơi ở Sài Gòn về căm cụi cập nhật mẫu mới.
Ông mày mò cắt bìa carton, bao xi măng tập may áo quần. Do sẵn nghề gia truyền từ ông nội, cha học rất nhanh, chẳng mấy chốc biết mổ trụ cổ tay, biết dựng cổ áo sơ mi, mở túi hậu... là những thứ mục khó đặc biệt trong kỹ thuật may.
Lại nói về nghề may ngày tết. Tôi từng một lần có áo mặc tết phá lời nguyền “con thợ may không bao giờ có áo tết”. Năm đó, cha tôi quyết tâm phải may áo tết cho 2 con gái. Mẹ tôi đi Sài Gòn mua được 2 xấp vải kate. Tôi còn nhớ áo của tôi là chiếc áo sơ mi nền trắng, hoạ tiết hình những con thuyền. Tôi đã mặc chiếc áo từ đêm 30, ngay sau phút giao thừa, hết 3 ngày tết mới chịu cởi ra. Chiếc áo cổ sơ mi (hồi ấy còn gọi là cổ Đức) khẳng định tôi khác đẳng cấp so với bọn con nít ngày tết chỉ mặc cổ lá sen, cổ tròn, cổ thuyền…
Chẳng biết có phải vì vậy không, mà tới tận giờ tôi vẫn mê mặc áo sơmi. Và phải là sơmi cổ Đức…
H. Phương
——-
Chị Hồng Phương đã chia sẻ câu chuyện này khi dõi theo những bước đi đầu của Emma Atelier. Chị nói những gì Emma làm và chia sẻ đã làm chị sống lại ký ức của một đứa trẻ trong khoảnh khắc được mặc một món đồ đặc biệt. Đồng thời, câu chuyện Emma làm chị nhớ lại không khí của một gia đình làm nghề may từ thời Pháp thuộc… Nhiều, nhiều chi tiết xúc động và thú vị đã được chị chia sẻ với Emma, giúp tụi mình vừa thăng hoa, vừa học được những chi tiết đáng giá về nghề may với thời cuộc…
Những ngày qua, có nhiều ký ức và đồng cảm của những người bạn đã được gửi đến Emma từ một chi tiết nào đó mà Emma chia sẻ. Thật hạnh phúc vì trên hành trình này, Emma được có mọi người trong những kết nối sâu xa và những rung động đẹp đẽ như vậy. 
Quay lại blog

Để lại bình luận

Xin lưu ý, bình luận cần được phê duyệt trước khi được đăng.